Thanh niên làm theo lời Bác's Blog

Vì độc lập, Tự do và Dân chủ là lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại,Thanh niên sẵn sàng!!!

Thư ngoại giao

Được đăng bởi thanhnienlamtheoloibac trên Tháng Mười Hai 25, 2011

Trả Lời Nguyễn Tâm Chiến – Đại Sứ CSVN Tại Mỹ –
Về Việc Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa
Và Dự Án Tượng Đài Chiến Sĩ Tự Do Tại TB. Washington
Nhân vụ Thượng Nghị sĩ Tiểu Bang là Pam Roach đưa ra hai nghị quyết tại Thượng viện Tiểu bang. Nghị quyết thứ nhất là công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ; nghị quyết thứ hai ủng hộ dự án xây tượng đài tại tiểu bang Washington kỷ niệm các chiến sĩ chiến đấu cho Tự Do.

Sau đó Nghị Sĩ Roach nhận một bức thư từ Đại sứ Cộng sản Việt Nam phản đối cả hai Nghị quyết trên. Ông Terrell A. Minarcin đã đánh máy lại thư Nguyễn Tâm Chiến và viết thư trả lời.

Đại sứ Cộng sản Việt Nam tại Washington D.C. đã phản ứng một cách điên cuồng, nên đã phạm phải những lỗi lầm nghiêm trọng về ngoại giao và bang giao quốc tế, trong đó có việc xâm phạm vào công việc nội bộ của công dân và đất nước Hoa Kỳ.

Sau đây là thư phản đối của Nguyễn Tâm Chiến, Đại sứ Cộng sản Việt Nam gửi Thượng Nghị Sĩ Pam Roach, tiểu bang Washington.

Ngày 10-2-2004

Kính thưa Thượng Nghị Sĩ Roach:

Với sự quan tâm đặc biệt mà tôi viết thư này gửi ông liên quan đến một nỗ lực thứ hai nhằm thừa nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ được trình bày trong văn kiện SJM8045. Đây là để tái khẳng định rằng nhân dân và chính phủ Việt Nam không thể chấp thuận với dự án xây dựng Tượng Đài. Tôi xin chia sẻ với ông về ý nghĩ của tôi.

Thứ nhất, dự án Tượng Đài đi ngược lại những quy ước quốc tế và thực tiễn. Bây giờ, cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa đã không còn tồn tại, hơn ba mươi năm qua, lá cờ của nó đã không còn chỗ đứng hợp pháp tại Việt Nam. Giống như một số văn bản hoặc nghị quyết, ngôn ngữ của dự án Tượng Đài Kỷ Niệm rõ ràng đã phủ định sự hiện hữu của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ vối Hoa Kỳ từ năm 1995.

Thứ hai, kể từ khi khởi đầu của giai đoạn mới của sự bình thường hóa và hòa giải với quý quốc vào năm 1995, Việt Nam đã làm hết sức mình để đẩy lùi quá khứ và nhìn về phía tương lai, phấn đấu để xây dựng một quan hệ mà đôi bên đều có lợi. Trong tiểu bang của ông, hãng Boeing đã bán máy bay cho Việt Nam và Cảng Seattle vẫn là một cảng chị em với cảng Hải Phòng của miền Bắc Việt Nam trong chương trình trao đổi. Theo ý tôi, dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, dấu hiệu làm sống lại quá khứ của hận thù và buồn đau, không phục vụ cho lợi ích của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hoặc tiểu bang Washington.

Thứ ba, với một chính sách kiên định, Việt Nam hoan nghênh sự tham gia năng động của Việt kiều trong việc mở rộng quan hệ có lợi cả hai bên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và sự hội nhập hữu hiệu của họ vào dòng sinh hoạt chính lưu của đời sống Mỹ.Việt Nam hy vọng mãnh liệt rằng cộng đồng của người Mỹ gốc Việt, khoảng gần năm mươi ngàn đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, sẽ cũng tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác.

Sau hết, ở cấp liên bang vị Ngoại Trưởng và các giới chức cao cấp Hoa Kỳ đã luôn luôn tuyên bố rằng Hoa Kỳ không công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ. Trong cuộc họp với tôi vào mùa hè vừa qua, Thống Đốc Gary Locke đã nói ông ta và tiểu bang Washington ủng hộ sự gia tăng quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tiểu bang Washington và Việt Nam.

Như ông có thể nhớ lại, Nghị Quyết Thượng Viện loại này số 8659 đã bị rút lại sau cuộc duyệt xét vào mùa xuân vừa qua, khi những ý tưởng này được đưa ra bàn thảo.

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng; tôi tin dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, một khi được cơ quan lập pháp của ông thông qua, sẽ đâm bổ vào chính Hiến Pháp Hoa kỳ là nền tảng trao quyền hành cho việc thi hành chính sách đối ngoại duy nhất trong hệ thống liên bang. Vả lại, bằng sự kêu gọi công nhận lá cờ cũ ấy “như là lá cờ chính thức duy nhất của nhân dân Việt Nam”, nó sẽ làm cho quyền tự do phát biểu bị nghi ngờ.

Dưới ánh sáng của những nhận xét này, tôi thành kính yêu cầu ông đừng hành động hỗ trợ cho dự án Tượng Đài Kỷ Niệm.

Tôi cảm ơn ông về sự quan tâm và hợp tác.
Với lòng kính trọng cao nhất của tôi

Ký tên : Nguyễn Tâm Chiến,
Đại sứ.

THƯ PHÚC ĐÁP TỪ WASHINGTON STATE.
Ngày 23-2-2004

Thưa Ông Đại sứ,

Tôi vừa nhận được một bản sao của thư ông gửi đến Nghị sĩ Pam Roach đề ngày 10-2-2004. Tôi xin trả lời thư đó.

Nếu bất cứ một nước nào khác viết bức thư này, thì sẽ đơn thuần một chuyện buồn cười. Nhưng đây lại là của nước ông, Ông Đại Sứ, nước Cộng sản Việt Nam. Nước ông chưa bao giờ tôn trọng hoặc thành thật tuân theo những thủ tục và quy định của bất cứ một thỏa hiệp quốc tế nào mà nước ông đã ký kết vào. Tuy nhiên, nước ông sẽ chỉ núp đằng sau các Thỏa hiệp ấy khi nào chúng thích hợp cho quyền lợi của nước ông. Khi có những cá nhân, chẳng hạn như bản thân tôi hoặc Ông M. Benge, hoặc các tổ chức như Ân Xá Quốc Tế, Ủy Ban Tự Do, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, cáo buộc quý quốc với vô số hành động vi phạm nhân quyền hoặc tổn hại, thì lập tức quý quốc đáp lại bằng cách nói rằng những vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm tới là những vấn đề nội bộ và rằng chúng tôi đã can thiệp vào chính sách của quý quốc. Thế cũng được. Ở đây, với quá trình được sắp đặt, chính ông đang can thiệp vào Tiểu bang Washington về những vấn đề không liên quan gì đến ông cả. Sao mà chúng tôi vinh danh sự đóng góp của các cá nhân hoặc các cộng đồng dân tộc ở đây tại Washington lại là ăn nhập đến ông. Xin hãy từ bỏ hành động can thiệp vào những vấn đề nội bộ của chúng tôi.

Ông muốn chúng tôi công nhận và vinh danh lá cờ của ông. Lá cờ đại diện cho một quốc gia đã thực hiện những cuộc tàn sát diệt chủng, huynh đệ tương tàn và buôn bán nô lệ quốc tế. Tôi, với tư cách một cư dân của tiểu bang Washington, không thể nào tha thứ hành động ấy. Sao ông dám đòi hỏi tôi làm? Làm như thế sẽ đưa tôi đến sự đồng lõa với những tội ác lớn lao chống nhân loại của nước ông.

Ông nói rằng dự án Đài Tưởng Niệm phủ định sự tồn tại của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nó chẳng làm được việc nào như thế đâu. Đối lại với các bảo tàng viện và đài tưởng niệm của nước ông, Đài Tưởng Niệm này bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với những người đã trả cái giá cao nhất cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trong nước Việt Nam Cộng Hòa cũ. Ngọn cờ của Việt Nam Cộng Hòa từ đó được công nhận như là ngọn cờ của tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Các màu sắc của nó thật là tiêu biểu. Ba sọc đỏ tượng trưng cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Trong lúc màu vàng nói lên sự quý giá biết bao của những lý tưởng ấy, màu đỏ tượng trưng cho sự đổ máu để bảo vệ những lý tưởng đó. Cả trong quá khứ và cả đối với những người sẽ bảo vệ những lý tưởng ấy cho đến chết. Tôi, trước hết, hân hạnh công nhận lá cờ Tự Do và tỏ lòng vinh danh nó. Tôi cũng sẽ hân hạnh công nhận lá cờ của ông khi ông công nhận lá cờ của chúng tôi. Trước khi ấy, đối với tôi, lá cờ của ông tượng trưng cho giết hại, khủng bố, ngược đãi, tráo trở, buôn bán nô lệ và vi phạm nhân quyền.

Ông tuyên bố rằng ông đang “cực kỳ” nỗ lực để đẩy lùi quá khứ. Vâng, với nước của ông, hồ sơ quá khứ là sự xâm phạm tất cả các tiêu chuẩn của hành động văn minh, nên tôi hoàn toàn hiểu được mong muốn đẩy lùi quá khứ của ông. Sau hết, mục đích về sự thừa nhận của ông chỉ bị tổn thương bởi những hành động quá khứ của nước ông.

Tất cả các cư dân của tiểu bang Washington sẽ cảm thấy sung sướng hơn để mở bàn tay thân hữu và hợp tác khi nước ông có đầy đủ Tự Do, Dân Chủ và mở rộng Nhân Quyền cho tất cả người dân Việt Nam. Trước khi đó, xin hãy tránh khỏi công việc nội bộ của chúng tôi.

Dự Án Đài Tưởng Niệm không phải là một lời tuyên bố của chính sách ngoại giao. Nơi mà ông lấy ra cái ý tưởng đó ngoài phạm vi của tôi. Một lần nữa, ông lại cố gắng làm mờ tối vấn đề. Những gì mà nhân dân Mỹ làm không mắc mớ gì tới ông. Đây là một vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington do những công dân bình thường vinh danh những người đã hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, là những lý tưởng đáng nguyền rủa đối với chính phủ chuyên chính bạo ngược của ông. Đó là những lý tưởng mà lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ đã tượng trưng.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn kỹ vào những gì mà nước ông đã làm và đang tiếp tục làm.

Cộng sản Việt Nam đã tham gia vào hành động diệt chủng. Nó đã chính thức bắt đầu suốt trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai. Chính nước ông đã tuyên chiến Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai. Theo định nghĩa lúc bấy giờ, đó là một cuộc chiến tranh. Như vậy, nước ông bị ràng buộc bởi những Quy Ước Genève về cách đối xử với Tù binh chiến tranh. Thế nhưng, như tôi đã nói trước đây, nước ông chưa đủ thành thật và tôn trọng đối với những nguyên tắc căn bản của bất cứ một hiệp định quốc tế nào mà nước ông đã ký vào.

Sự đối xử với tù binh chiến tranh của các ông đã chứng minh cho điều đó. Ngoài ra, các ông đã hành quyết ít nhất là 11 tù binh Hoa Kỳ đang bị các ông giam giữ. Đó là một tội phạm chiến tranh và diệt chủng. Cho đến ngày nay, các ông vẫn cố tình phạm tội diệt chủng. Hãy lấy trường hợp của Lý Tống, một người Mỹ gốc Việt. Các ông đã tìm cách can thiệp vào tòa án và luật pháp của Thái-Lan và yêu cầu Thái-Lan hãy hành quyết Lý Tống. Tội danh của ông ta là gì? Nói cho dân Việt Nam về Tự Do là một trường hợp mà các ông không thể nào tha thứ được.

Cộng sản Việt Nam đã tham gia và tiếp tục tham gia vào cuộc huynh đệ tương tàn. Việc này đã khởi đầu vào năm 1956 khi chế độ Cộng sản tại Hà Nội phát động chương trình Cải Cách Ruộng Đất. Trong lúc có thể dễ dàng trút trách nhiệm lên kẻ khích động của Cộng sản Quốc tế là Hồ Chí Minh, thì kiến trúc sư thực sự là Trường Chinh. Đã có bao nhiêu người Việt Nam chết dưới cuộc tàn sát này? 10,000? – 50,000? – 100,000? Nhiều hơn? Ngay cả chỉ có một nạn nhân của cuộc tàn sát này, cũng đã tạo nên cảnh tương tàn huynh đệ rồi. Cuộc tàn sát nhắm vào người thiểu số Việt Nam tại miền Tây Bắc Việt Nam cũng cùng một loại (với cải cách ruộng đất). Mục đích của cuộc tàn sát này là “xóa sạch chủng tộc” số người Việt Nam thiểu số đã giúp cho người Pháp. Tôi nhắc đến điều này là để chứng minh rằng các ông đã tiếp tục chính sách này sau khi kết thúc Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai với sự bắt đầu chính sách cưỡng bách tái định cư những người Việt Nam đã cộng tác với Việt Nam Cộng Hòa cũ tại những vùng mà các ông thản nhiên gọi là Vùng Kinh Tế Mới. Các ông tiếp tục chính sách diệt chủng hiện nay dưới dạng ngược đãi và khủng bố tôn giáo, nó cũng là một bằng chứng hiển nhiên về vi phạm nhân quyền. Bất cứ một người nào bị giết hại trong cuộc tàn sát này cũng là nạn nhân của chính sách diệt chủng và tương tàn của nước ông.

Hãy nhìn vào sự gắn bó của nước ông trong hành động buôn bán nô lệ. Nhiều lần trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai và cả sau đó, nước ông bán người Mỹ, bán đồng minh và tù binh Việt Nam qua nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô-Viết. Một bằng chứng, năm 1983, nước ông bán 275 người Mỹ và 27,000 tù binh Việt Nam qua Liên-xô để trừ nợ đã vay trong chiến tranh. Đây là một vi phạm quá trọng đại đối với nhân quyền và là một tội ác chống nhân loại. Đã có nhiều lần nước ông bán người Mỹ, đồng minh và tù binh Việt Nam qua Liên-Xô, nhưng mỗi một lần số lượng không nhiều lắm.

Nước ông có thể giải quyết nhiều trường hợp Tù Binh/Người Mất Tích Trong khi làm nhiệm vụ một cách dễ dàng bằng cách mở các hồ sơ quân đội và Công an của nước ông. Nhưng nước ông đã không làm chỉ vì không có lợi lộc gì trong việc giải quyết nhân đạo vấn đề tình cảm này. Nước ông tống tiền nước Mỹ cho lợi nhuận riêng và hưởng thụ. Tại sao? Bởi vì nước ông nhận thấy rằng Tổng Thống Nixon đã hứa viện trợ tái thiết cho nước ông khoảng 4 tỷ 3 đô-la. Điều này có thể xảy ra, nước ông có thể nhận được số tiền này một cách dễ dàng, nếu chịu công bố hồ sơ và danh sách tù binh của nước ông cho các gia đình và cho thế giới. Ít ra việc này cũng có thể làm giảm nhẹ một phần nào trong số tội ác của nước ông.

Rồi thì ông dám trơ tráo đòi hỏi rằng người Mỹ đừng can thiệp vào công việc nội bộ của ông và đòi vinh danh lá cờ của nước ông. Với hồ sơ của nước ông, lẽ ra ông nên vui mừng là đã không bị đưa ra xét xử bởi một Tòa án Quốc Tế về những tội ác chống nhân loại mà nước ông đã phạm.

Vậy thì, xin đừng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của chúng tôi trong việc vinh danh những người đã chết vì Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Xin đừng xen vào để xem làm sao chúng tôi vinh danh những công dân đã đóng góp vào sự an sinh và no ấm của Tiểu bang chúng tôi.

Terrell A. Minarcin
Concerned Citizen for Freedom, Democracy, and Human Rights for Vietnam.

Bản dịch của Nguyễn-Châu (San Jose)

NGUYÊN VĂN ANH NGỮ

From: Terrell Minarcin
Subject: Another International Incident
Date: Feb 23, 2004 9:30 PM
This is a rather long e-mail and for that I apologize. However, I
think it is well worth reading, even if I did write.

Recently, State Senator Pam Roach introduced two resolutions in our
State Senate. The first dealt with recognizing the flag of the former
Republic of Vietnam. The second dealt with support for a proposed
Freedom Fighters Memorial to be built here in Washington State.

Senator Roach then received a letter from the ambassador for communist Vietnam that protested both resolutions. I have re-typed the ambassador’s letter. If you wish a copy of the letter with the
letterhead on it, please e-mail me back and I will see that a copy of
it is FAXed to you. After the ambassador’s letter is my response to
him.

Please feel free to pass this e-mail to any one you wish.

Terry Minarcin
Dear Senator ROACH: February 10, 2004

It is with particular concern that I am writing to you regarding a
second attempt to recognize the flag of the former Republic of Vietnam,
as expressed in SJM8045. This is to reaffirm that the people and
Government of Vietnam cannot agree with the proposed Memorial. Let me share with you my thoughts.

First, the proposed Memorial runs counter to international conventions
and practices. Now that the so-called Republic of Vietnam ceased to
exist over thirty years ago, its flag therefore no longer has legal
standing in Vietnam. Like a number of similar bills or resolutions,
the language of the proposed Memorial clearly negates the existence of
the Socialist Republic of Vietnam that has established full diplomatic
relations with the United States since 1995.

Secondly, since the start of the new phase of normalization and
reconciliation in 1995 with your country, Vietnam has been doing her
utmost to put the past aside and look forward to the future, striving
to build a relationship that benefits both sides. In your State,
Boeing has been selling airplanes to Vietnam and the Port of Seattle
maintaining a sister port exchange program with Vietnam’s northern port of Hai Phong. In my opinion, the proposed Memorial, languaged to
revive the past of hatred and sadness, does not serve the interests of
either Vietnam, or the United States, or Washington State.

Thirdly, as a consistent policy, Vietnam welcomes active participation
by Vietnamese Americans in expanding the mutually beneficial
relationship between Vietnam and US and their effective integration
into the mainstream of the US life. It is Vietnam’s strong hope that
the community of Vietnamese Americans, about nearly fifty thousand of whom have chosen your State as their new home, will also adopt the
spirit of friendship and cooperation.

Finally, at the federal level the Secretary of State and other senior
US officials have repeatedly stated that the US does not recognize the
former Republic of Vietnam flag. In his meeting with me last summer,
Governor Gary Locke said he and the State of Washington are supportive of the acceleration of mutually beneficial ties between Washington State and Vietnam.

As you may recall, the similar Senate Resolution 8659 was withdrawn
from consideration last spring when those thoughts were taken into
account.

Last but not least; I believe the proposed Memorial, once passed by
your legislature, could run afoul of the very US Constitution that
vests the powers to conduct foreign policy solely in the federal
system. Furthermore, by calling for the recognition of the former flag
“as the only legitimate flag of the Vietnamese people,” it also renders
the freedom of expression questionable.

In light of these considerations, I respectfully urge you not to act in
favor of the proposed Memorial.

I thank you for your consideration and cooperation.
With my best personal regards,
(signed)
NGUYEN TAM CHIEN
Ambassador
Mr. Ambassador; February 23, 2004

I recently received a copy of your letter to State Senator Pam Roach
dated February 10, 2004. I would like to respond to that letter.

If any other country had written this letter, it would be, simply put,
laughable. But it was your country, Mr. Ambassador, communist Vietnam.
Your country has never honorably or honestly met the protocols of any
international agreement that you are a signatory to. Yet, you hide
behind these agreements only when they suit your fancy. When
individuals, such as myself or Mr. M. Benge, or organizations, such as
Amnesty International or Freedom House, or Human Rights Watch, charge
your country with numerous counts of violations of human rights or
worse, you immediately respond by saying that the matters we are
concerned with are internal matters and that we are interfering with
your country’s policies. So be it. You are interfering with due
process here in the State of Washington in matters that do not concern
you. How we honor the contributions of individuals or ethnic
communities here in Washington is of no concern to you. Quit
interfering in our internal matters.

You want us to recognize and honor your flag. The flag represents a
country that has promulgated pogroms of genocide, fratricide and
international slave trafficking. I, as a resident of the State of
Washington, can not condone such behavior. How dare you insist that I
do? To do so makes me an accomplice to your egregious crimes against
humanity.

You state that the proposed Memorial negates the existence of the
Socialist Republic of Vietnam. It does nothing of the sort. In
contrast to your museums and memorials, this Memorial pays tribute to
those who paid the ultimate price for Freedom, Democracy and Human
Rights in the former Republic of Vietnam. The flag of the former
Republic has since come to be recognized as the flag for the struggle
for Freedom, Democracy, and Human Rights throughout the World. The
colors are quite symbolic. The three bands stand for Freedom,
Democracy, and Human Rights. While the gold shows how precious these
ideals are, the red stands for the blood shed for these ideals, both in
the past and for those who will defend these ideals to the death. I,
for one, am glad to recognize the Freedom Flag and to pay honor to it.
I will be glad to recognize your flag when you recognize mine. Until
then, your flag, for me, stands for murder, persecution, duplicity,
slave trading, and human rights violations.

You state that you are trying your utmost to put the past aside. With
your country’s past records of abuse of all standards of civilized
behavior, I fully understand your desire to brush the past aside.
After all, your cause for recognition is only hurt by your past actions.

All of the residents of Washington will be more than happy to extend to
you the hand of friendship and cooperation when you fully embrace
Freedom, Democracy and to extend Human Rights to all Vietnamese. Until
then, stay out of our internal affairs.

The proposed Memorial is not a statement of foreign policy. Where you
got that idea is beyond me. Once again, you try to cloud the issue.
What the people of America do is not your concern. It is an internal
affair of the State of Washington by private citizens to honor those
who gave their lives defending Freedom, Democracy, and Human Rights,
ideals which are anathematic to your despotic government. That is what
that flag of gold with three horizontal red stripes stand for.

Now let us look closely at what your country has done and continues to
do.

Communist Vietnam has engaged in genocide. This began in earnest
during the Second Indochina War. You declared it the Second Indochina
War. By definition then, it was a war. As such, you were bound by the
Geneva Conventions governing the treatment of Prisoners of War (POWs).
But, as I stated before, you have yet to honestly and honorably meet
the tenets of any international agreement to which you are a signatory.
Your treatment of POWs testifies to this. In addition, you executed
at least 11 American POWs who were in your custody. This is a war
crime and genocide. To this day, you try to commit genocide. Take the
matter of Ly Tong, a Vietnamese-American. You tried to interfere in a
Thai court of law and demanded that Thailand execute Ly Tong. His
crime? Telling the Vietnamese about Freedom, a condition that you can
not tolerate.

Communist Vietnam has engaged in and continues to engage in fratricide.
This began in 1956 when the communist regime in Hanoi started their
land reform programs. While it would be easy to blame the agent
provocateur of the Communist Internationale, Ho Chi Minh, the real
architect was Truong Chinh. How many Vietnamese died under this
pogrom? 10,000? 50,000? 100,000? More? Even one victim of this
pogrom constitutes fratricide. The pogrom initiated against the
Vietnamese minorities in northwest Vietnam fall into this same
category. The aim of this pogrom was to “ethnically cleanse” Vietnam
of those minorities who had helped the French. I mention this to show
that you continued this policy after the conclusion of the Second
Indochina War with the start of your forcible relocation of Vietnamese
who were associated with the former Republic of Vietnam to those areas
you so blithely called New Economic Areas. You continue your ethnic
cleansing today under the guise of religious persecution, which is also
a blatant human rights violation. Any one executed under this pogrom
is a victim of your genocidal and fratricidal policies.

Let us take a look at your country’s involvement in the international
slave trafficking movement. Several times during the Second Indochina
War, and even afterwards, you sold American, allied, and Vietnamese
POWs to the former Union of Soviet Socialist Republics. To whit, in
1983, you sold 275 American and 27,000 Vietnamese POWs to the USSR to
reduce your war debt to them. This is a most egregious violation of
human rights and a crime against humanity. There were other times you
sold other American, allied and Vietnamese POWs to the USSR but not so
many at one time.

You could resolve many of the POW/MIA cases with ease by opening up
your military and political police files. You do not because there is
no profit in humanely resolving this emotional issue. You extort
monies from America for your own profit and gain. Why? Because you
feel that President Nixon promised you some $4.3 billion dollars in
reconstruction aid. Be that as it may, you can recover that money
easier if you release your files publicly to the families and to the
world. At least this can mitigate some of your crimes.

And then you have the gall to demand that Americans not interfere in
your internal affairs and to honor your flag. With your record, you
should be happy not to be on trial by an international court for your
crimes against humanity.

Until then, do not interfere in our internal affairs in how we honor
those who have died for Freedom, Democracy, and Human Rights. Do not
interfere with how we honor our citizens who contribute to the well
being and welfare of our State.

Terrell A. MinarcinConcerned Citizen for
Freedom, Democracy, and Human Rights
for Vietnam

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Giọt nước mắt của lề phải

Được đăng bởi thanhnienlamtheoloibac trên Tháng Mười Hai 17, 2011

Giọt nước mắt của lề phải

Đoan Trang

15-12-2011

Trong suy nghĩ của nhiều người ngoài ngành, qua phản ánh của phim ảnh, nghề báo đẹp như được một phủ lớp hào quang.

Nhà báo được tiếp xúc với số lượng người cực lớn, trong đó có nhiều quan chức cao cấp, văn nghệ sĩ nổi tiếng. Nhà báo có thể “dồn” một ông cốp tới lúc phải đắng họng, có thể vạch trần những âm mưu xấu xa, có thể bá vai bá cổ một nhà văn chụp ảnh, hay ôm hoa đứng bên các nghệ sĩ. Nhà báo có xu hướng là người quảng giao, rất hiểu biết, nói chuyện hay ho, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, giữa biết đủ ngóc ngách của xã hội. Nhà báo có xu hướng thông minh, hài hước, dũng cảm, biết chụp ảnh. Nghề báo là nghề đầy vinh quang và có cả sự phiêu lưu mạo hiểm…

Đó là suy nghĩ của nhiều người ngoài ngành về nghề báo và nhà báo. Tất nhiên, không phải 100% ý kiến đánh giá đều như vậy. Ở thái cực kia, người ta lại nghĩ nhà báo Việt Nam là cái lũ đầu rỗng, nỏ mồm chém gió và nói phét, đã thế lại đểu, chỉ giỏi vặt tiền doanh nghiệp, nói tục chửi bậy kinh khiếp mà viết lách thì không bài nào sạch lỗi.

Người ta cũng có thể nghĩ nhà báo Việt Nam là một lũ cừu, cứ sểnh ra là viết sai, viết láo, viết không có lợi cho tình hình chung, làm phương hại tới quan hệ giữa Việt Nam và một quốc gia nào đó.

Người ta còn nghĩ nhà báo Việt Nam là một bọn bồi bút, bọn lưỡi gỗ tuyên truyền phản dân hại nước, ngậm miệng ăn tiền. Không đếm được có bao nhiêu lời mạt sát “lề phải” trên mạng: “não nhẵn”, “óc phẳng”, “hèn hạ”, “ngu xuẩn”, “vô lương tâm”…

Tuy nhiên, không thể tóm gọn diện mạo của cả làng báo Việt Nam trong một vài tính từ tích cực hay tiêu cực nào. Vì họ có tất cả những gương mặt ấy, khía cạnh ấy. Và dù thế nào đi nữa, trong đội ngũ các chiến sĩ trên mặt trận văn hóa-tư tưởng (cách gọi khác của từ “đàn cừu”), vẫn luôn có những nhà báo lề phải ngày đêm lặng lẽ mang những gì tốt đẹp nhất mình có thể tìm được đến cho độc giả.

Tôi kính phục họ – những nhà báo trung thực, giấu sự phản kháng vào trong thầm lặng. Thật tiếc là, dẫu vô cùng muốn viết về họ, nhưng ngay cả lúc này, tôi vẫn cứ phải giấu tên các nhà báo ấy, để họ ở yên trong trận tuyến của họ – vì lẽ mọi lời nói ám chỉ đến họ đều có thể trở thành thông tin chỉ điểm.

“Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này…”

Họ trước hết là những người rất thông minh, sắc sảo. Và chúng ta đều hiểu là, một người có đầu óc thông minh, sắc sảo, biết xét đoán và biết phản biện, sẽ không bao giờ chấp nhận sự định hướng, lừa mị, bưng bít. Không thể che mắt họ bằng lối nhồi sọ của thế kỷ trước.

Họ cũng “phản động” chẳng kém bất kỳ nhà báo tự do, blogger lề trái nào. Nhưng trong hoàn cảnh của họ, họ không thể thoải mái viết bài phê phán, chỉ trích rồi đưa lên mạng tùy thích. Họ im lặng, cố gắng mang đến cho độc giả những thông tin tốt nhất có thể có được, thông qua một lối diễn đạt nhẹ nhàng nhất, và chỉ thầm ước mong: rồi độc giả sẽ hiểu.

Không có họ, ai là người đưa những thông tin đầu tiên về đại dự án bauxite 2009 ở Tây Nguyên ra công luận?

Không có họ, ai đưa những phát ngôn “đỉnh cao trí tuệ” trong chính trường Việt Nam lên mặt báo? Ai ghi lại những câu nói “bất hủ”, phản ánh trình độ (ít nhất là khả năng tư duy logic, khả năng diễn đạt) đáng báo động của một bộ phận không nhỏ quan chức nước nhà?

Không có họ, ai phản ánh về những vụ dân thường chết trong đồn công an một cách bí hiểm? Cho dù nhiều sự việc đau lòng như thế có thể chẳng đi về đâu, nhưng ít nhất, cũng nhờ có họ mà chuyện đã được đưa ra công luận.

Không có họ, ai viết về mãi lộ? về lũ lụt, tai nạn, tiền cứu trợ bị bớt xén hay hàng cứu trợ toàn bột giặt? về những tai nạn thảm khốc – cho thấy một xã hội đầy rủi ro, tỷ lệ tử chắc chắn là cao hơn mức 6/1.000 người dân/năm rất nhiều? về những bê bối trong trường học, bệnh viện? về một Vinashin vỡ nợ? Tất nhiên, việc báo chí viết về Vinashin hay các bê bối tương tự rất có thể chỉ là kết quả của những đấu đá nội bộ “trên thiên đình”, trong đó báo chí được sử dụng làm công cụ, vũ khí để bắn giết nhau, nhà báo chỉ là những con tốt mà thôi. Nhưng dù sao thì lũ tốt đen ấy cũng đã làm được công việc đưa một phần sự thật ra ánh sáng.

Cũng có những lúc lề trái và lề phải “phối hợp tác chiến” một cách rất hoàn hảo. Hình ảnh những người dân đi đầu trong đoàn biểu tình mùa hè năm 2011, giương cao tờ báo Thanh Niên với hàng chữ nổi bật trên trang nhất: “Không chủ trương trấn áp người biểu tình yêu nước”, có đủ nói lên sự ủng hộ ngấm ngầm của lề phải cho lề trái chăng? Tôi nhớ ở đâu đó, một độc giả bình luận: “Báo Thanh Niên đã góp sức để người dân thể hiện lòng yêu nước một cách an toàn – và quý báo cũng… an toàn!”.

Họ cũng ra đi. Ra đi nhiều lắm. Cứ sau mỗi vụ tờ báo nào đó bị xử lý, rất có thể là lại có hàng loạt người “bay”. Nhất là với cái thứ văn hóa đổ vấy của người Việt Nam, khi một loạt bài được “trên” biểu dương, thì lãnh đạo tòa báo hưởng, mà khi loạt bài bị “đánh” thì chỉ có thằng đánh máy, con sửa mo-rát là chết, mà lại là chết trong âm thầm, không ai hay biết.

Cũng nhiều người tự động bỏ đi, vì chán ngán, vì bế tắc. Một trong những người ấy đã gửi tôi một dòng tin nhắn mà không bao giờ tôi quên được: “Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này cho những kẻ mà ta khinh bỉ”. (1)

Vì nhân dân

Năm 2009, trong một bài về “Chuyện làm báo ở Sài Gòn trước 1975”, tôi đã viết: “… nghề báo thì bao giờ cũng vậy, là niềm vui, là nỗi buồn, là lòng nhiệt tình của tuổi trẻ và cả những giọt nước mắt”. Đó thực chất là điều tôi muốn nói về báo chí Việt Nam sau năm 1975. Tôi không biết trong cuộc chiến thầm lặng chống lại sự bưng bít, bóc trần cái xấu, thúc đẩy sự minh bạch, bao nhiêu nhà báo đã lau nước mắt.

Chiều 2/8/2011. Ngày ấy, ở Hà Nội diễn ra hai sự kiện: phiên xử phúc thẩm TS. Luật Cù Huy Hà Vũ và cuộc họp giao ban báo chí của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, với nội dung thông báo kết quả điều tra vụ “đạp mặt người biểu tình”.

Cảm giác “lạnh người” khi nghe tin ấy: Bộ Công an tổ chức họp báo ngay tại Thành ủy Hà Nội (giữa trung tâm thủ đô) để thông báo kết quả điều tra, và trước đó, tin đồn ít nhiều rằng đã có những cuộc tiếp xúc, điều đình giữa công an và người biểu tình bị đạp mặt – anh Nguyễn Chí Đức. Chúng tôi đều hiểu rằng, không có lý gì mà công an tự tin đến thế. Chắc là sẽ có một diễn biến gì đó…

3 giờ chiều, từ ngoài đường, tôi gọi điện cho bạn (vừa ở cuộc họp báo ra):

– Tình hình sao rồi mày?

– Xong rồi. Họ bảo tay Đức chống đối, ngồi bệt xuống đất, nên công an phải khiêng lên xe đưa về đồn. Ông Đức cũng bảo không bị ai đánh, viết tường trình nói rõ thế rồi.

– Còn cái clip kia?

– Không xác định được có phải là giả không.

– Thế bây giờ mày định…?

– Thì về viết bài, có thế nào viết như thế chứ còn định gì. So what? (thế thì sao)

– So what cái cục cứt! – chưa bao giờ tôi thô lỗ như thế trên điện thoại di động. – Mày định thế nào? Mày muốn cứ thế mà tương vào bài à? Mày không hỏi Chí Đức lấy một câu à?

– Mày muốn gì? Có giỏi thì mày viết đi, viết xem có đăng được không?

Hai người chửi nhau một trận nảy lửa trên điện thoại.

– Đừng có vô lý thế. Mày phải hiểu là không thể khác được. Trong trường hợp này tao chỉ có thể làm hết sức mình là phản ánh lại đúng sự việc qua lời của công an, và sẽ ghi rõ là “theo kết luận điều tra”. Thông tin được chừng nào tới người đọc tốt chừng ấy. Mày viết theo kiểu đa chiều, lấy ý kiến Chí Đức, xem có đăng được không? Sao cáu kỉnh vô lý thế? Có phải lỗi của tao không?

Đến lượt tôi ngồi bệt xuống đất, tay run bắn lên vì giận. Phải, chính tôi mới là kẻ vô lý. Tại sao tôi lại gầm lên trên điện thoại, lại văng tục với bạn tôi – nhà báo mà tôi nể phục, quý trọng, nhà báo mà tôi vẫn thường yêu mến bảo: “Như John Lennon và Paul McCartney, hai ta song kiếm hợp bích”. Tại sao tôi lại nói bạn như thế, trong khi cả hai đều hiểu ai là những kẻ phải chịu trách nhiệm về tất cả chuyện này.

Bất cứ người làm báo chuyên nghiệp nào cũng hiểu quá rõ rằng, “trung thực, khách quan, công bằng” là các nguyên tắc đạo đức hàng đầu; và nếu ở một nền truyền thông đa chiều như phương Tây, thì sau khi dự một cuộc họp báo của cơ quan công an như thế, việc tiếp theo phóng viên phải làm là phỏng vấn “phía bên kia”, tức là nạn nhân Nguyễn Chí Đức, để xem anh có ý kiến như thế nào, có thực anh đã viết tường trình khẳng định mình không bị đạp mặt hay không.

Nhưng báo chí nước mình nó khác, khác ghê lắm. Mà chẳng riêng báo chí, nói chung là cái nước mình nó khác. Video clip ghi lại hình ảnh vụ đạp mặt không được thừa nhận một cách thản nhiên. Cuộc họp báo của cơ quan công an, tổ chức tại Thành ủy Hà Nội, không có mặt Nguyễn Chí Đức, cũng không mời bất cứ một ai trong số những người đã ký kiến nghị đề nghị xử lý nghiêm vụ đạp mặt công dân. Kết luận chỉ hàm ý đơn giản là Nguyễn Chí Đức ăn vạ. Hỡi ôi, cả một hệ thống xông vào vùi dập một công dân! Và chúng tôi đã chẳng thể làm gì để bảo vệ công dân ấy.

Nhưng bạn tôi nói đúng. Chúng tôi không làm khác được. Trong một nền báo chí được định hướng chặt chẽ, sát sao. Trong một nền truyền thông nơi “quyền bình luận” của nhà báo bị triệt tiêu sạch sẽ – đừng hỏi vì sao báo chí (lề phải) Việt Nam bao năm qua không có nổi một cây viết bình luận cho ra hồn; phóng viên, nhà báo đâu có cái quyền ấy; nó là quyền của lực lượng “chống âm mưu diễn biến hòa bình” kia. Trong một nền truyền thông nơi báo chí bị coi như công cụ, nhà báo không khác gì con chó, khi nào bảo sủa thì sủa, bảo im thì im. Thì người làm báo phải lựa chọn. Hoặc là im lặng để cố gắng đưa được thông tin tới bạn đọc chừng nào tốt chừng ấy. Hoặc ra đi.

Và trong cuộc chiến lặng thầm đưa thông tin tới bạn đọc, nhiều nhà báo chỉ còn biết gạt nước mắt, thở dài mỗi khi bị hiểu nhầm, bị nghe chửi (oan) là “lưỡi gỗ”, “chó lợn”, “ngu xuẩn”… Đôi khi, họ làm tôi nhớ đến một câu hát buồn:

“Many times I’ve been alone,
and many times I’ve cried.
Many ways you’ve never known,
but many ways I’ve tried…” (2)

Ngước mắt nhìn trời…

Năm 2011 khép lại bằng một vài sự kiện, trong đó có chuyến về nước của GS. Trịnh Xuân Thuận, nhà vật lý thiên văn người Mỹ gốc Việt. Một trong những nhà báo thầm lặng mà tôi cũng rất yêu mến, khi tôi hỏi “có theo sự kiện này không”, đã trả lời: “Khi thất vọng với mặt đất thì là lúc nên nhìn lên trời”.

Dẫu là một câu nói đùa, nhưng nó đúng. Nhìn lên trời cũng là một cách để bớt ức chế với mặt đất. Nếu không ngước mắt nhìn trời, họ – những nhà báo vẫn cố gắng bám trụ với nghề, chấp nhận cay đắng, chấp nhận sự định hướng của một lực lượng mà năng lực truyền thông hẳn nhiên là thua xa họ – sẽ không chịu nổi bao nhiêu bụi bặm, rác rưởi.

Thôi thì chúng ta có thể hy vọng rằng, mọi việc được làm trên thế giới này đã được tiến hành bằng hy vọng.

Ghi chú:

1. Tiểu thuyết “Suối nguồn” (The Fountainhead, 1943) của Ayn Rand.

2. Ca khúc “Con đường dài và khúc khuỷu” (The Long and Winding Road, 1970) của “The Beatles”.

3. “Everything that is done in the world is done by hope” (Martin Luther).

Nguồn: blog trangridiculous

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài phát biểu của Lê Duẩn 1979

Được đăng bởi thanhnienlamtheoloibac trên Tháng Sáu 15, 2011

http://basam1.wordpress.com/2011/06/14/104-bai-phat-bi%E1%BB%83u-c%E1%BB%A7a-d%E1%BB%93ng-chi-le-du%E1%BA%A9n-v%E1%BB%81-t%E1%BA%ADp-doan-ph%E1%BA%A3n-d%E1%BB%99ng-trung-qu%E1%BB%91c-ch%E1%BB%91ng-vi%E1%BB%87t-nam/

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Dân Trung Quốc cũng chống bauxite

Được đăng bởi thanhnienlamtheoloibac trên Tháng Bảy 18, 2010

Dân Trung Quốc cũng chống bauxite
Ô nhiễm ở nhà máy đồng Thượng Hàng, Phúc Kiến (ảnh tư liệu)

Tình trạng ô nhiễm của các nhà máy TQ đang khiến giới chức đau đầu

Truyền thông Trung Quốc cho hay hơn 1000 người đã tụ tập, chặn đường và ném đá vào cảnh sát để phản đối tình trạng ô nhiễm từ một nhà máy khai thác bauxite và alumina ở phía nam nước này.

Tờ China Daily cho biết hơn một ngàn dân làng tại huyện Tĩnh Tây, thuộc tỉnh Quảng Tây, giáp với biên giới Việt Nam, đã đổ ra đường hôm thứ Ba để phản đối nhà máy của tập đoàn Nhôm và Năng lượng Sơn Đông Tân Phát, vốn là một trong các hãng sản xuất nhôm tư nhân lớn nhất Trung Quốc.

Tĩnh Tây là khu vực nổi tiếng về sản xuất bauxite và alumina, là nguyên liệu thô để sản xuất nhôm.

Chính phủ Trung Quốc vốn ngày càng lo ngại những phản ứng tức giận của công chúng về các vấn đề môi trường, đặc biệt là ô nhiễm.

Một tuyên bố của chính phủ được tờ China Daily trích dẫn nói: “Hầu như toàn bộ cư dân ở làng Linh Hoàn tham gia vào việc chặn đường tới huyện Tĩnh Tây chiều hôm thứ Ba, và một số dân làng đã ném đá vào cảnh sát”.

Một quan chức địa phương là Tần Vệ Phong được trích dẫn thì nói: “Dân làng rất không hài lòng trong một thời gian dài về tình trạng ô nhiễm môi trường mà nhà máy gây ra”.

Được biết dân làng đã chặn cổng vào nhà máy và phá một số cơ sở sản xuất trước khi giải tán.

Bản tin của Reuters trích báo chí Trung Quốc không nói gì về phản ứng của đại diện nhà máy.

Liên hệ Việt Nam

Việc khai thác bauxite và alumina thường bị giới bảo vệ môi sinh cho là kéo theo nhiều vấn đề nghiêm trọng về môi trường.

Công nghệ khai khoáng như quặng sắt, nhôm của nhiều công ty Trung Quốc ở châu Phi cũng bị phê phán.

Tại Việt Nam, việc triển khai hai dự án khai thác bauxite ở khu vực Tây Nguyên đã khiến giới trí thức trong nước lên tiếng mạnh mẽ trong thời gian qua.

Giới học giả và người dân đã có các phản đối gay gắt trước việc Việt Nam để cho các nhà thầu Trung Quốc tham gia vào hai dự án khai thác bauxite tại Tân Rai ở Lâm Đồng và Nhân Cơ ở Đăk Nông.

Nhiều người lo ngại hậu quả về môi trường của hai dự án này sẽ là khôn lường.

Tuy nhiên, Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn nói khai thác bauxite là “chủ trương lớn” và chỉ thị cho việc triển khai các dự án được thực hiện đúng tiến độ.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Lý lẽ của một nhân vật chống Đảng cộng sản

Được đăng bởi thanhnienlamtheoloibac trên Tháng Bảy 14, 2010

Ngô Nhân Dụng

Nhà báo Bùi Tín mới phổ biến hai bản tin về việc 200 đảng viên Cộng Sản Pháp đã công khai từ bỏ đảng, trong đó có 3 dân biểu Quốc Hội mới viết chung một bài trên nhật báo Thế Giới (Le Monde) giải thích hành động của họ.

Ðây là những quyết định đáng ca ngợi. Các đảng viên cộng sản từ bỏ đảng là một hành động khó khăn, không giống như khi một người ở Mỹ đổi từ đảng Dân Chủ sang Cộng Hòa, hoặc ngược lại. Vì những đảng chính trị ở Mỹ thường chỉ khác nhau về các chính sách trị quốc, ai thích chính sách nào thì hoạt động trong đảng đó; đến khi không đồng ý với các chính sách của đảng thì thay đổi. Chẳng khác gì có người đang ủng hộ đội banh Tây Ban Nha nay đổi sang ủng hộ đội Ðức vậy.

Còn một người vào đảng Cộng Sản thì giống như gia nhập một giáo hội. Họ tôn thờ những giáo điều của các ông thánh Mác, Lê Nin, coi đó là những chân lý, là những giá trị tuyệt đối để theo đuổi trong đời. Cho nên, những đảng viên cộng sản bỏ đảng là họ rất can đảm, dám thú nhận rằng trong quá khứ họ đã chọn nhầm, đã sai lầm trên những điều căn bản. Trong số những người Pháp mới bỏ đảng có những vị đã đắc cử thị trưởng, nghị viên, dân biểu, vân vân, khi họ là đảng viên cộng sản. Nghĩa là họ đã đạt được những địa vị xã hội nhờ nhãn hiệu cộng sản, mà nay họ sẵn sàng từ bỏ. Như vậy thì việc bỏ đảng của họ còn đáng khen hơn những đảng viên thường. Những đảng viên Cộng Sản Việt Nam bây giờ mà dám từ bỏ đảng còn đáng khâm phục hơn những người Pháp này. Vì ở Việt Nam mà bỏ đảng thì không những biết trước sẽ mất nhiều quyền lợi dành cho các đảng viên, mà còn phải chấp nhận có thể sẽ bị đàn áp, trù dập suốt đời. Nếu chế độ đó kéo dài thì đến đời con, đời cháu có thể còn chưa thoát bị trù.

Ngày 9 tháng 6 vừa rồi, ba dân biểu cộng sản đại diện các khu lao động trong vùng thủ đô Paris viết chung một bài dài 767 chữ trên báo Le Monde, Le sens de notre départ du Parti communiste – Ý nghĩa việc chúng tôi rời khỏi Ðảng Cộng Sản. Một nguyên nhân chính mà họ nêu lên là trong nhiều năm qua họ cùng nhiều người khác đã tranh đấu để thay đổi đảng Cộng Sản, nhưng bao nhiêu lời hứa hẹn thay đổi đã bị trì hoãn. Một nguyên nhân khiến người ta muốn thay đổi là không còn muốn ôm lấy những giáo điều cũ rích trong khi thế giới đã đổi thay – một thế giới chính trị đã chết, Ðảng Cộng Sản (Pháp) là một thành phần thừa hưởng di sản đó, một thế giới mới mà chúng tôi mong muốn đang chuẩn bị ra đời (Simplement, un monde politique meurt, don’t le PCF est l’un des héritiers, un autre tarde à naitre…).

Nhưng thế giới chính trị đã chết đó là thế giới nào?

Mới nghe người ta có thể tưởng đó là thế giới cộng sản do Liên Bang Xô Viết lãnh đạo. Nhưng không chỉ giản dị như vậy. Sự sụp đổ của Nga Xô và các nước cộng sản chư hầu chỉ là hiện tượng bình thường trong lịch sử. Khi một hệ thống kinh tế chính trị đã tận dụng các ưu điểm của nó, tự nó sẽ sinh bệnh khô cứng rồi chết; khi một đế quốc lan ra rộng quá, trung tâm không còn đủ sức kiểm soát các địa phương, đế quốc tan rã. Một thế giới chính trị quan trọng hơn đã chết, là thế giới trong đó một số người sử dụng quyền bính áp đặt ý kiến của mình trên tất cả mọi người khác để hưởng thụ, trong khi vẫn tự coi mình đang theo đuổi một lý tưởng, nhân danh lợi ích của đám đông. Họ có thể hành động tàn bạo, lừa lọc, gian trá, trong lúc thực hiện “lý tưởng” của họ, vì họ tin rằng họ đã làm chủ được chân lý – để thực hiện chân lý, như một tôn giáo, người ta không từ nan một việc ác nào. Khai tử thế giới đó, chấm dứt ảo vọng đó, dù mới chỉ thực hiện được ở các nước cộng sản Âu Châu thôi, đã là một điều rất đáng mừng cho cả nhân loại.

Những người đầu tiên theo chủ nghĩa cộng sản vì lý tưởng muốn chấm dứt, thay đổi cảnh bất công trong nền kinh tế tư bản. Nhưng lý thuyết kinh tế của Karl Marx dù phân tích rất xuất sắc nhưng chỉ đưa ra những viễn tượng thiếu thực tế, cho nên Lenin đã tìm cách thực hiện qua guồng máy nhà nước. Stalin đã hoàn thiện hệ thống chuyên chế quản lý xã hội này, kiểm soát cuộc sống của tất cả mọi người bằng một guồng máy tập trung. Các người làm cách mạng trong những nước nghèo nhìn vào hệ thống tổ chức đó rất cảm phục vì cảm thấy nó giản dị, hữu hiệu, và dễ bắt chước. Họ tưởng rằng muốn cho các nước nghèo tiến lên với tốc độ nhanh thì nên bắt chước Liên Xô!

Ðó là bắt đầu sai lầm những mối sai lầm.

Sai lầm đầu tiên là một đảng cách mạng dù theo mục tiêu dân chủ nhưng hoạt động trong bí mật sẽ dần dần đưa tới chế độ “quả đầu” ngay trong đảng của họ. Một lớp cán bộ chỉ huy năng động nhất sẽ chiếm độc quyền lãnh đạo và chỉ còn nghĩ tới địa vị của mình, bỏ qua lý tưởng ban đầu mà các đảng viên vẫn theo đuổi. Ðiều này đã được nhà xã hội học Robert Michels (1876-1936), một học trò giỏi của Max Weber nêu lên từ năm 1911. Các đảng cộng sản trên thế giới đều đi vào con đường như Lenin và Stalin đã đi ở Nga, cuối cùng đều phản bội lý tưởng ban đầu, chỉ còn giữ một hệ thống thư lại độc quyền.

Một điều sai lầm quan trọng không kém là họ không nhớ rằng “quyền hành sinh nhũng lạm, quyền tuyệt đối sinh nhũng lạm tuyệt đối.” Lord Acton (1832-1902) được người đời nhớ nhất vì nhận xét giản dị này, mà một người bình thường sử dụng lương tri cũng có thể thấy như vậy. Chỉ những người cuồng tín và tự cao tự đại mới nhắm mắt trước sự thật đơn sơ đó.

Những lãnh tụ cộng sản ở các nước nghèo tưởng rằng họ có thể đưa dân tộc mình vào con đường hiện đại hóa bằng guồng máy kinh tế, chính trị cộng sản Nga, họ phạm một nhầm lẫn khác. Sử dụng chính quyền để thúc đẩy kinh tế tiến lên, thay vì khuyến khích thị trường phát triển, đã không tiến nhanh hơn mà ngược lại còn làm cho quá trình hiện đại hóa chậm chạp hơn. Vì chính quyền không giúp cho xã hội tiến nhanh mà lại trói buộc, trì hoãn, khiến xã hội tiến chậm hơn. Cứ so sánh hai vùng Tây và Ðông Âu Châu sau Ðại Chiến Thứ Hai, thấy ngay. Các nước Ðông Âu có những chính quyền mạnh, tập trung lãnh đạo, chỉ huy, vẽ ra các kế hoạch; còn các nước Tây Âu thì luôn luôn lộn xộn, chính phủ lên rồi lại đổ, những nước như Italy tưởng như không ai cai trị nổi. Nhưng sau cùng Tây Âu đã tới trước Ðông Âu trong cuộc chạy đua kinh tế, đồng thời xã hội của họ cởi mở, tự do, lành mạnh hơn.

Các chế độ cộng sản ở Nga và Ðông Âu sụp đổ không phải vì “những thế lực thù địch” nào chống phá mà vì chính người dân, các nhà trí thức, rồi đến các đảng viên cộng sản của các nước đó nhìn thấy con đường họ đang theo bế tắc, vì những sai lầm căn bản trên. Người dân sống nghèo hơn. Họ không có tự do. Ðạo lý cũng suy đồi. Hạnh phúc không đạt được. Những người như Gorbachev, Yeltsin ở Nga, Zaruelski ở Ba Lan, Egon Krenz ở Ðông Ðức không yêu thích gì chế độ dân chủ; họ vẫn mong bảo vệ một chế độ đã nuôi nấng họ, tạo nên địa vị, của cải cho họ. Nhưng họ phải lùi bước, vì những sai lầm tích lũy đã đưa đảng cộng sản đến bước đường cùng. Họ đã “từ bỏ đảng cộng sản” bằng cách lẳng lặng để cho nó tan rã, vô tình giúp bao nhiêu đảng viên khác tự động từ bỏ đảng.

Cuối cùng thì tất cả các đảng viên cộng sản sẽ từ bỏ đảng, bằng cách này hay cách khác. Lịch sử sẽ ghi nhận cộng sản là một cuộc thí nghiệm thất bại của loài người. Kinh tế tư bản có vẻ sống lâu hơn. Tư bản không phải là một chủ nghĩa, mà chỉ là một cách tổ chức kinh tế dựa trên thị trường, trên hoạt động và sáng kiến của các công dân tự do. Hệ thống tư bản không theo một giáo điều cho nên cứ thế thay đổi, thích ứng; chưa biết nó sẽ kéo dài được bao lâu. Loài người sẽ tiếp tục thí nghiệm những phương pháp tổ chức xã hội khác. Một điều chắc sẽ khó thay đổi, là niềm tin vào tự do dân chủ của con người mỗi ngày mạnh hơn. Chỉ trong cuộc sống tự do dân chủ xã hội loài người mới tiến bộ được. Cho nên, nếu các đảng viên Cộng Sản Việt Nam biết từ bỏ đảng sớm, như 200 đảng viên Cộng Sản Pháp vừa mới làm, thì đó sẽ là phúc lớn cho dân tộc.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Tư tưởng Hồ Chí Minh

Được đăng bởi thanhnienlamtheoloibac trên Tháng Năm 21, 2010

Tư tưởng Hồ Chí Minh qua Bản yêu sách gửi đến Hội nghị Véc-xây và bản Hiến pháp 1946
bài viết của Minh Tuấn (từ Tokyo, Nhật Bản) tìm hiểu những nét tương đồng giữa Bản yêu sách gửi đến Hội nghị Véc-xây (năm 1919) và Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta (năm 1946), từ đó thấy được một điểm nhất quán hết sức quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc năm 1918. Ngày 28 tháng 6 năm 1919, các nước thắng trận và bại trận đã họp Hội nghị tại Versailles, Pháp, để ký kết các hòa ước chính thức, cũng như phân chia các quyền lợi cho các nước thắng trận.
Các nước thắng trận bao gồm Anh, Pháp, Nga, Ytalia, Mỹ. Các nước bại trận bao gồm Đức, Áo – Hungary, và Thổ Nhĩ Kỳ.
Tại Hội nghị Versailles này, bên cạnh các đoàn đại biểu chính thức, còn có đại diện các dân tộc bị áp bức, đến dự Hội nghị để yêu cầu độc lập và tự do cho dân tộc mình, như đại diện cho người Aixơlen, người Ấn Độ, người Triều Tiên, người Arập… Khi đó người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Pháp, đã tự tổ chức nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pa-ri, và tại các tỉnh ở Pháp. Ông Nguyễn Ái Quốc đã đến Hội nghị Versailles với danh nghĩa đại diện cho tổ chức này.
Tại Hội nghị Versailles, ông Nguyễn Ái Quốc đã phát cho các đại biểu dự Hội nghị “Bản yêu sách của dân tộc Việt Nam gửi đến Hội nghị Versailles”. “Bản yêu sách” này bao gồm 8 điểm rất ôn hòa, yêu cầu Chính phủ Pháp trao trả một số quyền tự do, dân chủ cơ bản tối thiểu cho nhân dân Việt Nam.

“Bản yêu sách” nổi tiếng của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc gửi Hội nghị Versaillé năm 1919 đó, bao gồm 8 điểm là:

1- Ân xá toàn thể chính trị phạm Việt Nam.
2- Cải cách nền pháp lý Đông Dương, cho người Việt Nam cũng được bảo đảm về mặt pháp lý như người Âu, bỏ hẳn Tòa án đặc biệt, công cụ để khủng bố những người Việt Nam lương thiện nhất.
3- Tự do báo chí và tự do tư tưởng.
4-Tự do lập hội và tự do hội họp.
5-Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do ra nước ngoài.
6-Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh.
7-Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp.
8-Phải có đại biểu thường trực người Việt Nam do người bản xứ bầu ra, ở bên cạnh Nghị viện Pháp để trình bày nguyện vọng của người bản xứ”.
Sau “Bản yêu sách 8 điểm” gửi Hội nghị Versailles, lần đầu tiên dư luận ở Pháp, và ở Việt Nam biết đến cái tên Nguyễn Ái Quốc, một thanh niên Việt Nam trẻ tuổi đấu tranh cho độc lập, tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.
Và cũng từ đó, mật thám Pháp bắt đầu để ý, theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của ông Nguyễn Ái Quốc. Bởi vì, với Nhà nước thực dân độc tài, phản dân chủ, thì mọi tiếng nói đòi tự do, dân chủ cho người dân Việt Nam đều bị coi là nguy hiểm cho Nhà nước thực dân.
Nhưng tất cả những yêu sách ôn hòa đó của Nhóm người Việt Nam yêu nước của ông Nguyễn Ái Quốc đều không được Chính phủ Pháp, cũng như các nước trong Hội nghị Versailles quan tâm, để ý. Từ đó, ông Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận quan trọng rằng không thể trông cậy vào các nước khác, “muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.
Bây giờ nhìn lại Bản yêu sách 8 điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị Versailles năm 1919, chúng ta thấy rằng tư tưởng của Bác Hồ về một thể chế tôn trọng những quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho người dân được hình thành từ rất sớm. Khi đó Bác Hồ mới 29 tuổi, và mới sang Pháp được 8 năm. Trong số các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, thì Bác Hồ là người duy nhất sống ở nước ngoài tới 30 năm.
Bác ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, tại bến Nhà Rồng, Sài Gòn, và chỉ đến năm 1941 mới trở về nước, để lãnh đạo Đảng, nhân dân đấu tranh giành chính quyền. Bởi vậy Bác là người hiểu rất rõ những hạn chế, xấu xa của chế độ tư bản, thực dân, nhưng đồng thời Bác cũng hiểu được rất rõ các giá trị của nền văn minh phương Tây, của chế độ tự do, dân chủ phương Tây.
Chính bởi vậy, vào năm 1946, khi Bác Hồ chỉ đạo soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bản Hiến pháp 1946 đó chứa đựng rất nhiều giá trị tiến bộ của nền dân chủ phương Tây. Bác Hồ đã lãnh đạo Đảng và nhân dân Việt Nam đánh đuổi thực dân, nhưng những giá trị của nền văn minh phương Tây, thì cần phải khiêm tốn học hỏi. Đó chính là tính biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Điều 10 của Hiến pháp 1946 qui định: “Công dân Việt Nam có quyền: – Tự do ngôn luận. – Tự do xuất bản. – Tự do tổ chức và hội họp. – Tự do tín ngưỡng. – Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Nội dung của điều 10 này rất giống một phần nội dung 8 điểm mà Bác Hồ đã gửi Hội nghị Versailles cách năm 1946 đó 27 năm.
Hiện nay trong cả nước đang dấy lên phong trào “lao động, học tập gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đây là phong trào rất hay, rất cần thiết, nhưng theo tôi thiển nghĩ thì chưa đủ. Bởi vì đạo đức Hồ Chí Minh chỉ là một nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Một diểm nhất quán và hết sức quan trọng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là về xây dựng một Nhà nước công bộc của dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”. Trong thư “Gửi các ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện, và làng” tháng 10 năm 1945, Bác Hồ viết “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Như vậy, Bác Hồ hiểu rất rõ độc lập cũng chỉ là phương tiện để thực hiện tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tự do, hạnh phúc cho nhân dân mới là mục đích của nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước.
Chừng nào còn có kẻ đánh bạc cả triệu đôla, nhưng cả triệu người dân còn thiếu thốn nhiều bề, chừng nào còn có cán bộ hách dịch, xếch mé với dân, không làm tròn trách nhiệm là công bộc của dân, chừng nào người dân còn chịu oan khuất, phải đi khiếu kiện kêu cầu công lý, chừng nào bộ máy hành chính còn hành dân, thì chừng đó, tư tưởng Hồ Chí Minh còn chưa được quán triệt trở thành hành động trong thực tế.
Bây giờ nhìn lại Bản yêu sách 8 điểm của Bác Hồ cách đây gần 100 năm, và bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, chúng ta thấy rõ tư tưởng của Bác Hồ về xây dựng một thể chế tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân.
Từ đó chúng ta thấy rõ rằng cần phải từ phong trào lao động, học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay, nâng cao lên thành phong trào học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nhà nước công bộc của dân.

Minh Tuấn
(Từ Tokyo, Nhật Bản)

Posted in Uncategorized | Thẻ: | Leave a Comment »

Luật sư tập sự

Được đăng bởi thanhnienlamtheoloibac trên Tháng Năm 21, 2010

Kính thưa các vị,
Theo thông tin tôi được biết ngày 8 và 9 sắp tới đây là ngày xét xử nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, sinh viên Ngô Quỳnh và một số nhà hoạt động dân chủ khác. Dù chưa phải là luật sư nhưng tôi vẫn thấy có trách nhiệm với họ và những thân nhân trong gia đình họ. Với tôi họ là những người rất can đảm, đáng được quần chúng hoan nghênh và dư luận bảo vệ. Tôi nghĩ, viết những lời bào chữa cho họ là một niềm vinh dự lớn.
Không phải là luật sư, cũng không thể có mặt tại phiên Toà, nhưng lương tâm vẫn thôi thúc tôi nói với mọi người, với dư luận rằng: ”Tất cả đều vô tội”. Sự vô tội của họ là không cần bàn cãi, là không cần chứng minh nữa. Có thể nhiều người nghi ngại rằng: ”không cần bào chữa, không cần chứng minh, thì lời biện minh này dành cho ai?”. Xin quý vị hãy nhẫn nại để tôi được trình bày.
Tôi xin bắt đầu như thế này:
Thứ nhất, khi sự có tội không được chứng minh thì sự vô tội đã được chứng minh.
Nguyên tắc này là nguyên tắc suy đoán vô tội, là kết quả của nền văn minh tư pháp, không thể phủ nhận được. Hiến pháp vá Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã thừa nhận. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nền tố tụng Tư Pháp Việt Nam đã hoàn toàn đi ngược lại. Đúng hơn là tư duy theo cách ngược lại, tức là: suy đoán có tội, bắt nhầm hơn bỏ sót. Tôi có thể dẫn chứng trong vụ án này: ”Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, sinh viên Ngô Quỳnh và một số người khác bị bắt và tạm giam hơn một năm nay”. Nếu không phải là suy đoán có tội thì ai cho phép họ làm điều đó ? Tại sao sự tự do của công dân Việt Nam lại dễ dàng bị tước đoạt như vậy?
Các vị hãy đọc Cáo trạng của Viện Kiểm Sát.
Viện Kiểm Sát đã chứng minh hành vi của những người này là phạm tội như sau:
Viết và treo biểu ngữ trên cầu Lạch Tray và cầu Lai Cách.
Kết luận giám định: Biểu ngữ có nội dung kích động, chống lại Nhà Nước.
Từ đó đi đến cáo buộc: phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Ở đây chẳng có sự chứng minh nào cả, chỉ có sự quy kết và chụp mũ. Với công thức này (thu giữ tài liệu + kết luận giám định = phạm tội ở điều 88), nhà cầm quyền dễ dàng “kết tội” bất cứ ai lên tiếng phản biện hay trình bày chính kiến đối lập. Vấn đề được đặt ra là: Cơ quan giám định có độc lập không? Kết luận giám định có khách quan không? Tài liệu thu giữ có hơp pháp không? v.v, rất nhiều câu hỏi được đặt ra. Bất kỳ câu trả lời “KHÔNG” nào, đều dẫn đến sự vô tội của những người này. Nguyên văn các biểu ngữ được treo ở cầu Lạch Tray và cầu Lai Cách như sau:
– Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo Việt Nam
– Dân chủ, nhân quyền cho nhân dân Việt Nam
– Đa nguyên, đa đảng cho Việt Nam
Biểu ngữ treo ở cầu Lai Cách Hải Dương viết:
– Lạm phát, dân nghèo khổ là do chính quyền CS
– Mất dân chủ tự do nhân quyền là do chính quyền CS
– Mất đất mất đảo là do chính quyền đảng CS
– Yêu cầu: đa nguyên đa đảng
Tôi không tìm thấy nội dung nào “chống Nhà nước” trong các biểu ngữ này. Các biểu ngữ này hoàn toàn không có bất kỳ câu chữ nào nói đến Nhà Nước. Việc đồng nhất Đảng Cộng Sản với Nhà Nước là việc làm tuỳ tiện, thiếu khoa học và không thực tiễn, Đảng và Nhà Nước la hai tổ chức khác biệt nhau. Chỉ trích Đảng không đồng nghĩa với chống Nhà Nước. Nếu như việc chỉ trích những đường lối, những chính sách của một đảng phái là phạm tội thì tôi nghĩ hầu hết các Nguyên thủ quốc gia trên thế giới đều phải đi tù. Thứ hai, phán quyết của Toà án Việt Nam có phải là điểm dừng của công lý hay không? Xin thưa là không và chưa bao giờ toà án Việt Nam chứng tỏ được vai trò ”tìm sự thật “ và ”phán quyết công lý” trong những vụ án chính trị như thế này. Công lý có thể tìm thẩy bằng nhiều phương tiện và cách thức khác nhau, nhưng phổ biến nhất là con đường tố tụng tư pháp. Điểm dừng của con đường này là phán quyết có hiệu lực của Toà án. Mọi người chấp nhận phán quyết của Toà án như một giá trị công bằng phổ biến. Phán quyết của Toà án dựa trên pháp luật, từ sự trong sạch của lương tâm và sự độc lập là điểm dừng của công lý. Các vị hãy nhìn vào cấu trúc của hệ thống Toà án Việt Nam. Tất cả Thẩm phán và hội thẩm nhân dân- những người phán quyết công lý đều phải là Đảng viên (xem luật thẩm phán và hội thẩm nhân dân). Phải chăng Đảng muốn phán quyết luôn cả công lý? Các biểu ngữ treo ở cầu Lai Cách và Lạch Tray là phản đối đường lối của Đảng, nay chính các Đảng viên là những người xét xử, thì ngay từ đầu đã không bảo đảm được sự độc lâp và khách quan, thì làm sao có được công lý ?Ở mức độ bao quát nhất, có thể nói Toà án Việt Nam là toà án của Đảng Cộng sản. Đảng phán quyết luôn cho cả nền công lý ở Việt Nam. Tất cả dân tộc đều chờ sự ”ban phát công lý” từ Đảng Cộng sản. Ở mức độ hẹp hơn, thì công lý chỉ được bảo đảm khi Toà Án tuân thủ những điều luật đã được quy định. Đặt biệt là luật tố tụng hình sự. Bất kỳ sự vi phạm tố tụng nào cũng đều dẫn đến sự vô tội của những người này, đều chứng tỏ sự lúng túng của nhà cầm quyền. Việc giam cầm hơn một năm mà không xét xử đã vi phạm nghiêm trọng về tố tụng. Nhà cầm quyền tự đưa ra xét xử, rồi tự hoãn phiên Toà, bất chấp những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, phải chăng là đã phủ nhận Công lý ?Thứ ba, bày tỏ chính kiến đối lập là quyền căn bản của cá nhân và là nhu cầu khách quan của xả hội.
Bày tỏ chính kiến là hình thức thực hiện quyền tự do ngôn luận. Quyền này đã được nhà Nước Việt Nam thừa nhận, ký kết vào văn kiện quốc tế về quyền con người. Tất cả các Hiến Pháp của Việt Nam từ năm 1945 đến nay đều nghi nhận quyền này. Nhà Nước nào, Chế độ nào cũng đều lấy việc bảo đảm, phát triển và mở rộng quyền con người làm mục tiêu phấn đấu của mình. Xem đó là điều kiện tối thiểu để người dân được hạnh phúc. Mà thật vậy, con người chỉ cảm thấy hạnh phúc khi các quyền căn bản của mình được tôn trọng. Không một lý luận nào, một sự giải thích nào, một lý do nào có thể đi đến sự phủ nhận quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận.Không thể lấy sự tồn tại của một Chế độ, của một Đảng phái để phủ nhận các quyền căn bản của con người. Chỉ có Chế độ độc tài mới có sự nguỵ biện như vậy. Bày tỏ chứng kiến, kể cả chứng kiến đối lập không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội.Và do đó, không thể xem là phạm tội.Trong một chừng mực nào đó có thể nói, bày tỏ chứng kiến đối lập là một trong cách thức “phản biện xã hội”, là nhân tố góp phần thúc đẩy sư tiến bộ của xã hội. Tôi cho rằng, và hy vọng mọi người cũng đồng ý rằng: Việc treo biểu ngữ trên cầu Lạch tray và cầu Lai cách của nhà văn. Nguyễn Xuan Nghĩa, sinh viên Ngô Quỳnh và một số người khác là cách thức thực hiện quyền bày tỏ chứng kiến đối lập. Hành vi này hoàn toàn không nguy hiểm cho xã hội, kể cả khi có nội dung chỉ trích Đảng Cộng Sản.Thưa các vị,Tất cả mọi người chúng ta, tôi cũng như các vị, đều mong muốn có được sự tự do ngôn luận, được nói lên tiếng nói của mình, được bày tỏ chứng kiến. Mọi người đều mong góp tiếng nói của minh cho sự phát triển Đất nước. Tất cả sự mong muốn thực hiện quyền cá nhân của mỗi người chúng ta đã tạo ra một nhu cầu xã hội. Nhu cầu đó là một đòi hỏi khách quan, mà Nhà Nước phải đáp ứng. Nhà Nước không thể phủ nhận hay cản trở, nếu không muốn nói là phải tạo điều kiện để đáp ứng nhu cầu này. Tôi xin đặt câu hỏi: Nhà nước Việt Nam có tôn trọng quyền bày tỏ chứng kiến và đáp ứng nhu cầu khánh quan này hay không? Gần bảy trăm tờ báo và nhiều phương tiện truyền thông có nơi nào mà chúng ta có thể trình bày những chứng kiến của mình không? Nhiều nhà báo phải đi tù, bị mất việc, có tờ báo phải ngưng hoạt đông vì đăng bài nêu những chứng kiến đối lập. Nhiều tiếng nói góp ý, phản biện được gởi trực tiếp đến các cơ quan Nhà nước nhưng hầu hết đều rơi vào im lặng. Không có nơi nào, phương tiện nào để trình bày chính kiến, thì việc treo biểu trên cầu Lạch Tray và cầu Lai Cách là một cách thức tất yếu để bày tỏ chứng kiến của mình. Đó là khát vọng, là nhu cầu chứ không phải là tội phạm. Cuối cùng, vi phạm ở điều 88 phải chăng là niềm tự hào? Thưa các vị, Bản chất con người là hướng thiện. Tất cả chúng ta đều có khuynh hướng chống lại sự ác, sự dữ, sự bất công, sự cường quyền. Tất cả đều mong muốn một Đất nước Việt nam tự do, dân chủ và các giá tri của con ngưới được tôn trọng. Treo biểu ngữ trên cầu Lạch Tray, cầu Lai Cách, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, sinh viên Ngô Quỳnh và một số người khác muốn bày tỏ chứng kiến của mình, muốn chỉ ra các nguyên nhân làm cho dân tộc đói nghèo, mất đất liền, mất hải đảo. Đây là quan điểm cá nhân của họ, quan điểm của họ có thể đúng, có thể sai, nhưng động cơ mục đích của họ là hoàn toàn trong sạch . Để cho một đất nước nghèo nàn lạc hậu, mất đất liền, mất hải đảo có thể có nhiều nguyên nhân nhưng Nhà Nước và Đảng cầm quyền không thể phủ nhận trách nhiệm của mình. Và do đó quan điểm của những người này không phải là không có lý. Đấu tranh chống lại sự bất công, cho các giá tri con người và cho một đất nước phát triển là hành đông can đảm đáng được mọi ngưới tôn trọng và hoan nghênh. Việc nhà cầm quyền giam giữ và đưa những người này ra xét xử là hành động đi ngược lại lợi ích của dân tộc và chà đạp lên lương tâm của loài người. Nếu tiếp tục cho rằng những người này là “tội phạm” cần phải xét xử và giam cầm thì một ngày nào đó tất cả chúng ta đều thấy rằng vi phạm điều 88 BLHS Việt Nam là cả một niềm tự hào phải không thưa các vị? Xin cảm ơn mọi người đã lắng nghe tôi trinh bày.
Ngày 5 tháng 10 năm 2009

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

HIEN PHAP NAM 1946

Được đăng bởi thanhnienlamtheoloibac trên Tháng Năm 21, 2010

HIEN PHAP NAM 1946
Lời nói đầu
Cuộc Cách mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền Dân chủ Cộng hoà.
Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan. Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới.
Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ.
Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của Cách mạng và phải xây dựng trên những nguyên tắc dưới đây:
• Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.
• Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
• Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Với tinh thần đoàn kết, phấn đấu sẵn có của toàn dân, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hoà bình của nhân loại.
Chương I: Chính thể
Điều thứ 1
Nước Việt Nam là một nước Dân chủ.
Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.
Điều thứ 2
Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia.
Điều thứ 3
Cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh.
Quốc ca là bài Tiến quân ca.
Thủ đô đặt ở Hà Nội.
Chương II: Nghĩa vụ và Quyền lợi Công dân
Mục A: Nghĩa vụ
Điều thứ 4
Mỗi công dân Việt Nam phải:
• Bảo vệ Tổ quốc
• Tôn trọng Hiến pháp
• Tuân theo pháp luật.
Điều thứ 5
Công dân Việt Nam có nghĩa vụ phải đi lính.
Mục B: Quyền lợi
Điều thứ 6
Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá.
Điều thứ 7
Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình.
Điều thứ 8
Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung.
Điều thứ 9
Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện.
Điều thứ 10
Công dân Việt Nam có quyền:
• Tự do ngôn luận
• Tự do xuất bản
• Tự do tổ chức và hội họp
• Tự do tín ngưỡng
• Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.
Điều thứ 11
Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam. Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật.
Điều thứ 12
Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm.
Điều thứ 13
Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay được bảo đảm.
Điều thứ 14
Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng.
Điều thứ 15
Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình.
Học trò nghèo được Chính phủ giúp.
Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước.
Điều thứ 16
Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam.
Mục C :Bầu cử, bãi miễn và phúc quyết
Điều thứ 17
Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu. Bỏ phiếu phải tự do, trực tiếp và kín.
Điều thứ 18
Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền.
Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử.
Điều thứ 19
Cách thức tuyển cử sẽ do luật định.
Điều thứ 20
Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra, theo điều thứ 41 và 61.
Điều thứ 21
Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo điều thứ 32 và 70.
Chương III: Nghị viện nhân dân
Điều thứ 22
Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Điều thứ 23
Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài.
Điều thứ 24
Nghị viện nhân dân do công dân Việt Nam bầu ra. Ba năm bầu một lần.
Cứ 5 vạn dân thì có một nghị viên.
Số nghị viên của những đô thị lớn và những địa phương có quốc dân thiểu số sẽ do luật định.
Điều thứ 25
Nghị viên không phải chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho toàn thể nhân dân.
Điều thứ 26
Nghị viện nhân dân tự thẩm tra xem các nghị viên có được bầu hợp lệ hay không.
Điều thứ 27
Nghị viện nhân dân bầu một Nghị trưởng, hai Phó nghị trưởng, 12 uỷ viên chính thức, 3 uỷ viên dự khuyết để lập thành Ban thường vụ.
Nghị trưởng và Phó nghị trưởng kiêm chức Trưởng và Phó trưởng Ban thường vụ.
Điều thứ 28
Nghị viện nhân dân mỗi năm họp hai lần do Ban thường vụ triệu tập vào tháng 5 và tháng 11 dương lịch.
Ban thường vụ có thể triệu tập hội nghị bất thường nếu xét cần.
Ban thường vụ phải triệu tập Nghị viện nếu một phần ba tổng số nghị viên hoặc Chính phủ yêu cầu.
Điều thứ 29
Phải có quá nửa tổng số nghị viên tới họp, hội nghị mới được biểu quyết.
Nghị viện quyết nghị theo quá nửa số nghị viên có mặt.
Nhưng muốn tuyên chiến thì phải có hai phần ba số nghị viên có mặt bỏ phiếu thuận.
Điều thứ 30
Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe.
Các báo chí được phép thuật lại các cuộc thảo luận và quyết nghị của Nghị viện.
Trong những trường hợp đặc biệt, Nghị viện có thể quyết nghị họp kín.
Điều thứ 31
Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước Việt Nam phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri. Nhưng trong hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại. Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch phải ban bố.
Điều thứ 32
Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý. Cách thức phúc quyết sẽ do luật định.
Điều thứ 33
Khi nào hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý, Nghị viện có thể tự giải tán. Ban thường vụ thay mặt Nghị viện tuyên bố sự tự giải tán ấy.
Điều thứ 34
Khi Nghị viện nhân dân đã hết hạn hoặc chưa hết hạn mà tự giải tán thì Ban thường vụ giữ chức quyền cho đến khi bầu lại Nghị viện nhân dân mới.
Điều thứ 35
Hai tháng trước khi Nghị viện nhân dân hết hạn, Ban thường vụ tuyên bố cuộc bầu cử lại. Cuộc bầu cử mới phải làm xong trong hai tháng trước ngày Nghị viện hết hạn.
Khi Nghị viện nhân dân tự giải tán, Ban thường vụ tuyên bố ngay cuộc bầu cử lại. Cuộc bầu cử mới làm xong trong hai tháng sau ngày Nghị viện tự giải tán.
Chậm nhất là một tháng sau cuộc bầu cử, Ban thường vụ phải họp Nghị viện nhân dân mới.
Trong khi có chiến tranh mà nghị viện hết hạn thì Nghị viện hoặc Ban thường vụ có quyền gia hạn thêm một thời gian không nhất định. Nhưng chậm nhất là sáu tháng sau khi chiến tranh kết liễu thì phải bầu lại Nghị viện.
Điều thứ 36
Khi Nghị viện không họp, Ban thường vụ có quyền:
a) Biểu quyết những dự án sắc luật của Chính phủ. Những sắc luật đó phải đem trình Nghị viện vào phiên họp gần nhất để Nghị viện ưng chuẩn hoặc phế bỏ.
b) Triệu tập Nghị viện nhân dân.
c) Kiểm soát và phê bình Chính phủ.
Điều thứ 37
Phải có quá nửa tổng số nhân viên bỏ phiếu thuận, những nghị quyết của Ban thường vụ mới có giá trị.
Điều thứ 38
Khi Nghị viện không họp được, Ban thường vụ cùng với Chính phủ có quyền quyết định tuyên chiến hay đình chiến.
Điều thứ 39
Đầu mỗi khoá họp, sau khi Ban thường vụ báo cáo công việc, vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm Ban thường vụ có thể nêu ra, nếu có một phần tư tổng số nghị viên yêu cầu. Toàn Ban thường vụ phải từ chức nếu không được tín nhiệm. Nhân viên Ban thường vụ cũ có thể được bầu lại.
Điều thứ 40
Nếu chưa được Nghị viện nhân dân đồng ý hay trong lúc Nghị viện không họp mà chưa được Ban thường vụ đồng ý thì Chính phủ không được bắt giam và xét xử những nghị viên.
Nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện.
Trong trường hợp phạm pháp quả tang, Chính phủ có thể bắt giam nghị viên ngay nhưng chậm nhất là 24 giờ phải thông tri cho Ban thường vụ. Ban thường vụ hoặc Nghị viện sẽ định đoạt.
Khi một nghị viên mất quyền ứng cử thì đồng thời mất cả tư cách nghị viên.
Điều thứ 41
Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó. Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức.
Điều thứ 42
Phụ cấp của các nghị viên sẽ do luật định.
Chương IV: Chính phủ
Điều thứ 43
Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Điều thứ 44
Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội các.
Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng.
Điều thứ 45
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận.
Nếu bỏ phiếu lần đầu mà không đủ số phiếu ấy, thì lần thứ nhì sẽ theo đa số tương đối.
Chủ tịch nước Việt Nam được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại.
Trong vòng một tháng trước khi hết nhiệm kỳ của Chủ tịch, Ban thường vụ phải triệu tập Nghị viện để bầu Chủ tịch mới.
Điều thứ 46
Phó chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chọn trong nhân dân và bầu theo lệ thường.
Nhiệm kỳ của Phó chủ tịch theo nhiệm kỳ của Nghị viện.
Phó chủ tịch giúp đỡ Chủ tịch.
Khi Chủ tịch từ trần hay từ chức thì Phó chủ tịch tạm quyền Chủ tịch. Chậm nhất là hai tháng phải bầu Chủ tịch mới.
Điều thứ 47
Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Nếu được Nghị viện tín nhiệm, Thủ tướng chọn các Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách. Thứ trưởng có thể chọn ngoài Nghị viện và do Thủ tướng đề cử ra Hội đồng Chính phủ duyệt y.
Nhân viên Ban thường vụ Nghị viện không được tham dự vào Chính phủ.
Điều thứ 48
Nếu khuyết Bộ trưởng nào thì Thủ tướng thoả thuận với Ban thường vụ để chỉ định ngay người tạm thay cho đến khi Nghị viện họp và chuẩn y.
Điều thứ 49
Quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà:
a) Thay mặt cho nước.
b) Giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân.
c) Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ.
d) Chủ toạ Hội đồng Chính phủ.
đ) Ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị.
e) Thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự.
g) Đặc xá.
h) Ký hiệp ước với các nước.
i) Phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao của các nước.
k) Tuyên chiến hay đình chiến theo như điều 38 đã định.
Điều thứ 50
Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc.
Điều thứ 51
Mỗi khi truy tố Chủ tịch, Phó chủ tịch hay một nhân viên Nội các về tội phản quốc, Nghị viện sẽ lập một Toà án đặc biệt để xét xử. Việc bắt bớ và truy tố trước Toà án một nhân viên Nội các về thường tội phải có sự ưng chuẩn của Hội đồng Chính phủ.
Điều thứ 52
Quyền hạn của Chính phủ:
a) Thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện.
b) Đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện.
c) Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban thường vụ, trong lúc Nghị viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt.
d) Bãi bỏ những mệnh lệnh và nghị quyết của cơ quan cấp dưới, nếu cần.
đ) Bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chính hoặc chuyên môn.
e) Thi hành luật động viên và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn đất nước.
g) Lập dự án ngân sách hàng năm.
Điều thứ 53
Mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chứ ký của Chủ tịch nước Việt Nam và tuỳ theo quyền hạn các Bộ, phải có một hay nhiều vị Bộ trưởng tiếp ký. Các vị Bộ trưởng ấy phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện.
Điều thứ 54
Bộ trưởng nào không được Nghị viên tín nhiệm thì phải từ chức.
Toàn thể Nội các không phải chịu liên đới trách nhiệm về hành vi một Bộ trưởng.
Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các. Nhưng Nghị viện chỉ có thể biểu quyết về vấn đề tín nhiệm khi Thủ tướng, Ban thường vụ hoặc một phần tư tổng số Nghị viện nêu vấn đề ấy ra.
Trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại. Cuộc thảo luận lần thứ hai phải cách cuộc thảo luận lần thứ nhất là 48 giờ. Sau cuộc biểu quyết này, Nội các mất tín nhiệm phải từ chức.
Điều thứ 55
Các Bộ trưởng phải trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều chất vấn của Nghị viện hoặc của Ban thường vụ. Kỳ hạn trả lời chậm nhất là 10 ngày sau khi nhận được thư chất vấn.
Điều thứ 56
Khi Nghị viện hết hạn hoặc tự giải tán, Nội các giữ chức quyền cho đến khi họp Nghị viện mới.
Chương V: Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính
Điều thứ 57
Nước Việt Nam về phương diện hành chính gồm có ba bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã.
Điều thứ 58
Ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có Hội đồng Nhân dân do đầu phiếu phổ thông và trực tiếp bầu ra.
Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố, thị xã hay xã cử ra Uỷ ban Hành chính.
Ở bộ và huyện, chỉ có Uỷ ban Hành chính. Uỷ ban Hành chính bộ do Hội đồng các tỉnh và thành phố bầu ra. Uỷ ban Hành chính huyện do Hội đồng các xã bầu ra.
Điều thứ 59
Hội đồng Nhân dân quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình. Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên. Uỷ ban Hành chính có trách nhiệm:
a) Thi hành các mệnh lệnh của cấp trên.
b) Thi hành các nghị quyết của Hội đồng Nhân dân địa phương mình sau khi được cấp trên chuẩn y.
c) Chỉ huy công việc hành chính trong địa phương.
Điều thứ 60
Uỷ ban Hành chính chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với Hội đồng Nhân dân địa phương mình.
Điều thứ 61
Nhân viên Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính có thể bị bãi miễn. Cách thức bãi miễn sẽ do luật định.
Điều thứ 62
Một đạo luật sẽ định rõ những chi tiết tổ chức các Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính.
Chương VI: Cơ quan Tư pháp
Điều thứ 63
Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm có:
a) Toà án tối cao.
b) Các toà án phúc thẩm.
c) Các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp.
Điều thứ 64
Các viên thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm.
Điều thứ 65
Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với thẩm phán nếu là việc đại hình.
Điều thứ 66
Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước Toà án.
Điều thứ 67
Các phiên toà án đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt. Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư.
Điều thứ 68
Cấm không được tra tấn, đánh đập, ngược đãi những bị cáo và tội nhân.
Điều thứ 69
Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp.
Chương VII: Sửa đổi Hiến pháp
Điều thứ 70
Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:
a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu.
b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi.
c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Dân trí Đảng viên

Được đăng bởi thanhnienlamtheoloibac trên Tháng Năm 21, 2010

Dân trí Đảng viên
Lâu nay người ta hay nói “cần nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân”, thì đất nước mới phát triển được. Điều đó thì rất đúng rồi. Nhưng có lẽ cấp bách hơn cả là phải nâng cao trình độ dân trí cho đảng viên trước đã, rồi sau đó là nâng cao dân trí cho nhân dân sau.
Bởi vì Đảng ở nước ta là Đảng lãnh đạo, là Đảng cầm quyền. Nếu người lãnh đạo mà trình độ không cao thì khó lãnh đạo lắm, nói người ta không nghe, mà đôi khi nói cũng sai, vì trình độ có hạn.
Ngày xưa khi chưa có Đảng, cha ông ta dùng hệ thống thi cử và tiến cử để lựa chọn nhân tài bổ nhiệm làm quan, để lãnh đạo đất nước. Khóa thi đầu tiên đào tạo quan lại là năm 1075, đời vua Lý Nhân Tôn, đến khóa thi cuối cùng ở miền Bắc là năm 1915, và ở miền Trung là năm 1918.
Hệ thống khoa cử thời ông cha ta tuy có nhiều hạn chế, nhưng nói chung những người thi đỗ đều là những người thông minh hơn người, vừa có khả năng làm quan, lãnh đạo công việc đất nước, vừa có khả năng thơ, văn, nghiên cứu, viết sách để lại cho đời.
Những vị quan qua thi cử như Lê Văn Hưu (1230-1322), Mạc Đĩnh Chi (1280-1350), Chu Văn An (không rõ năm sinh -1370), Nguyễn Trãi (1380-1442), Lê Quý Đôn (1726-1784), Nguyễn Du (1765-1820), Phan Huy Chú (1782-1840)… đều là những người vừa là vị quan tài giỏi, thanh liêm, vừa là những nhà trí thức nổi tiếng, để lại nhiều tác phẩm có giá trị cho xã hội.
So với thời Đảng lãnh đạo ngày nay, các vị lãnh đạo đồng thời là những nhà trí thức nổi tiếng không có nhiều, các tác phẩm để lại cho hậu thế chủ yếu là hồi ký. Một số tác phẩm lý luận được viết ra chủ yếu nói về chủ nghĩa Mác, Lê-nin, cũng chỉ là bình luận thêm, và nói về việc vận dụng học thuyết đó vào nước ta, chứ không có sáng tính tạo tư tưởng lớn.

Ai hay đấu tranh, hay tranh luận, hay có ý kiến này khác thì khó được kết nạp vào Đảng.
Cách lựa chọn đảng viên ngày nay cũng không đặt nhiều vào trình độ hiểu biết, hay phẩm chất đạo đức thanh liêm, chính trực, mà trước tiên dựa vào lý lịch, thành phần giai cấp. Sau đó là hiền lành, ít nói. Ai hay đấu tranh, hay tranh luận, hay có ý kiến này khác thì khó được kết nạp vào Đảng.
Đến khi đã trở thành đảng viên rồi, nếu được lựa chọn làm cán bộ lãnh đạo sau này, thì được đưa đi đào tạo ở hệ thống các trường Đảng, là nơi chủ yếu dạy về lý luận chủ nghĩa Mác, Lê-nin và về lịch sử Đảng. Đến hệ thống đào tạo tại Học viện Hành chính Quốc gia để đào tạo cán bộ quản lý cũng học nặng về chủ nghĩa Mác, Lê-nin, về “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Cả hai hệ thống trường Đảng và hành chính này không dạy nhiều về các kiến thức quản lý xã hội của thế giới và lịch sử làm nên nền văn minh của loài người. Điều đó cũng phải, vì bản thân các giáo viên giảng dạy cũng có mấy người được đào tạo tại các trường đại học nổi tiếng trên thế giới đâu. Nếu có ai đó được đi tu nghiệp ở các trường nổi tiếng trên thế giới, thì khi về, cũng được thấm nhuần thêm về lịch sử Đảng và chủ nghĩa MácLê-nin nữa để có đủ phẩm chất chính trị đứng trên bục giảng.
Có thể nói hệ thống đào tạo đó không cung cấp được nhiều tri thức có giá trị cho đảng viên.
Ở nước ta người dân vẫn truyền khẩu nhau các câu chuyện tiếu lâm rằng có vị lãnh đạo chức vụ cỡ trung bình, thuộc làu làu nghị quyết Đảng, lý luận Mác, Lênin nhưng không biết Nguyễn Du là ai. Hoặc có vị khi đi giảng bài về chiến tranh Iraq, thì nói là chiến tranh “một rắc”, vì tự cho mình là hiểu biết, nghĩ chữ “I” là số 1 chữ La-mã.
Hoặc có những vị đảng viên lãnh đạo đứng trên diễn đàn nói chuyện về chính trị, nhưng chữ “l” và “n” nhầm lung tung. Đại loại như: “Hôm lay tôi sẽ lói về chân ní sáng ngời của chủ nghĩa Mác, Nê-nin cho các đồng chí nghe”, là không phải hiếm hiện nay. Những vị đảng viên – lãnh đạo đó không thể lãnh đạo được ai.
Muốn nâng cao trình độ dân trí cho Đảng, thì trước tiên phải cải cách nội dung giảng dạy tại các trường Đảng, tại Học viện Hành chính Quốc gia, mạnh dạn cho tranh luận về các học thuyết lỗi thời, không chụp mũ là “mất phẩm chất chính trị”. Đồng thời phải học các kiến thức hiện đại nhất mà loài người đang học, mà các xã hội văn minh hơn ta, phát triển hơn ta đang học. Phải đưa các giáo viên đi tái đào tạo tại các nước tiên tiến để học cái hay của họ và dạy các kiến thức tiên tiến của thế giới cho đảng viên.
Đảng cũng phải mở rộng cánh cửa để kết nạp người tài giỏi, đức độ vào Đảng, không trói buộc vào chủ nghĩa lý lịch lỗi thời, không phải trải qua các bước giới thiệu, rồi bồi dưỡng, rồi thử thách… như hiện nay. Trên thế giới, các Đảng chính trị không kết nạp đảng viên như Đảng ở nước ta hiện nay.
Thời Đảng chưa giành được chính quyền, Đảng cũng không kết nạp đảng viên khe khắt như hiện nay. Bất kỳ ai đồng ý với tôn chỉ mục đích của Đảng, và muốn trở thành đảng viên, thì đều có thể được kết nạp vào Đảng, không có bất kỳ một ràng buộc nào, trừ khi kẻ đó đang bị điều tra về tội nào đó. Chỉ có như vậy Đảng mới thu hút được nhân tài và người có đức dộ vào Đảng. Trình độ dân trí của Đảng nhờ vậy mới được nâng cao một cách cơ bản. 

Vậy giờ đây, Đảng có đồng ý kết nạp cả những người nước ngoài, những Việt kiều mong muốn vào Đảng để tham gia xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng, bác ái không?
Năm 1921, Bác Hồ ở Pháp, Bác đã gia nhập Đảng cộng sản Pháp, mặc dù Bác là người nước ngoài. Vậy giờ đây, Đảng có đồng ý kết nạp cả những người nước ngoài, những Việt kiều mong muốn vào Đảng để tham gia xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng, bác ái không?
Hãy thử hình dung nếu như có hơn một nửa các vị Ủy viên Trung ương Đảng ở nước ta đã từng qua đào tạo tại trường Harvard ở Mỹ, hoặc trường Leeds ở Anh, hoặc trường Charles de Gaulle ở Pháp, hoặc trường Todai ở Nhật… thì trí tuệ của Đảng hẳn sẽ khác hiện nay nhiều lắm.
Hãy xem các bậc trí thức lớn ở nước ta trong thế kỷ 20, như luật sư Phan Anh, như bác sĩ Tôn Thất Tùng, như thiếu tướng – nhà khoa học Trần Đại Nghĩa, như nhà nông học Lương Định Của… đều học ở Pháp, ở Nhật cả.
Và nếu quý hơn nữa, có vài vị Ủy viên Bộ chính trị cũng từng du học ở các trường đại học danh tiếng nào đó trên thế giới. Thế thì quả thật là diễm phúc cho Đảng và cũng là diễm phúc cho dân ta, nước ta.
Học ở các nước tư bản không có nghĩa là bị mất đi chất của con người cộng sản. Học cái hay của họ để áp dụng, đó mới là người cộng sản biết đổi mới, có tri thức có trình độ dân trí cao.
Minh Tuấn
(Từ Tokyo)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Đêm Chong Đèn Ngồi Nghĩ

Được đăng bởi thanhnienlamtheoloibac trên Tháng Năm 21, 2010

Bùi Minh Quốc: Đêm Chong Đèn Ngồi Nghĩ
Các anh – những người Tháng Tám
Các anh đâu rồi?
Thấm mệt rồi chăng?
Các anh nghĩ gì sau nếp nhăn vầng trán
“Thế sự du du…” thật giả nhập nhằng!…
Có lẽ nào?
Có lẽ nào?
Lịch sử
Lại như con thò lò trong ván bài quỉ dữ?
Máu nhân dân tuôn chảy đúc ngai vàng
Bạo chúa ngồi lem lẻm tụng nhân dân?
Ơi em gái Trường Sơn mười tám tuổi
Cùng đồng đội đêm nao truy điệu sống cho mình
Và cứ thế dấn thân vào lửa giội
Em nghĩ gì sau cặp mắt kiên trinh?
Em nghĩ tới tương lai tươi thắm ngọt lành?
Tương lai ấy bây giờ tôi sống dở
Quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi
Tôi bước đi trên đất nước nghẹn lời
Các anh đâu rồi?
Những người Tháng Tám
Chẳng nhẽ khoanh tay nhìn tấn trò bội phản
Dân tộc này bị vỡ nợ Tự Do?
Dân tộc từng sống chết chẳng so đo
Quyết không làm nô lệ
Sao hôm nay
Người đành cam chịu thế
Mặc thân phận mình dưới ách tà gian
“Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than…”
Câu hát cũ lòng tôi rỉ máu
Kìa em gái Trường Sơn hiện hồn về nhìn tôi đau đáu
Tháng tám ơi!
Tháng Tám nước non mình
Tôi lại đi, lầm lũi cuộc hành trình
Chỉ có thế thôi!
Thơ
Với cường quyền
Đối mặt
Sống trong tôi là triệu người đã khuất
Đang thét đòi món nợ: Tự Do!
(19/8/1994)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

 
Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu